Heiji Hattori 21/05/2021 14:57
Từ vũ trụ, trái đất trông dịu mắt với màu xanh lục và xanh lơ. Nhưng nếu gí mắt xuống gần mặt đất, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy màu nâu. Thứ màu này ở đâu ra? Chính là từ các loài cây xanh, Một nghiên cứu mới tiết lộ.Khi thực vật héo và chết đi, lá và cành của chúng rơi xuống, mang theo carbon mà chúng đã dự trữ vào lòng dất.Những vi khuẩn tí hon trên trái đất đã cắn nát những tàn thực vật này bằng các enzyme chuyên dụng (có tác dụng bẻ gẫy các liên kết trong lá, thân cây) để tạo ra những miếng mồi ngon phù hợp với kích cỡ của chúng. Các vi sinh vật háu đói xử lý một lượng lớn carbon trong đất, thậm chí thu nạp vài loại nguyên tố vào trong tế bào của mình.Và vì bận rộn như vậy, vi khuẩn không thể thực hiện trọn vẹn công việc. "Chúng chẳng phải là những cái máy nghiền hiệu quả trăm phần trăm", Steven Allison, một nhà sinh thái học tại Đại học Irvine, California, nói. Lát cắt đất dọc theo sông Manu, Perru có màu hơi vàng và đỏ do khoáng chất, trong khi lớp mỏng trên bề mặt có màu nâu là do sự có mặt của carbon hữu cơ. (Ảnh: LiveScience)"Có những mảnh carbon không bị vi khuẩn đánh chén, và có carbon trong cơ thể của chính chúng. Sau đó chúng chết đi, carbon lại quay trở lại lòng đất. Đó là một chu trình, mà ở đó luôn có carbon còn sót lại. Những mảnh nhỏ này tích luỹ dần qua thời gian".Chúng được gọi là vật liệu mùn, chất đống năm này qua năm khác. Chính kho tích luỹ carbon của vi khuẩn đã tạo cho trái đất màu nâu bẩn, bởi carbon hấp thụ hầu hết màu sắc trong quang phổ mặt trời, trừ ánh sáng màu nâu bị nó phản xạ trở lại.Tuy nhiên, không phải đất đai trên khắp trái đất đều có màu nâu. Một số sa mạc dường như chỉ có cát trắng. Đất ở Hawaii, giàu sắt, lại có màu hơi đỏ. Đào sâu xuống đất ở một vài vùng có màu nâu bẩn, bạn sẽ thấy các màu khác bên dưới."Nếu không có quá nhiều carbon trong lòng đất, mặt đất sẽ có màu vàng, đỏ và xám. Chúng phụ thuộc vào màu của khoáng chất chủ đạo ở đó", Allison nói.

Từ vũ trụ, trái đất trông dịu mắt với màu xanh lục và xanh lơ. Nhưng nếu gí mắt xuống gần mặt đất, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy màu nâu. Thứ màu này ở đâu ra? Chính là từ các loài cây xanh, Một nghiên cứu mới tiết lộ.

Khi thực vật héo và chết đi, lá và cành của chúng rơi xuống, mang theo carbon mà chúng đã dự trữ vào lòng dất.

Những vi khuẩn tí hon trên trái đất đã cắn nát những tàn thực vật này bằng các enzyme chuyên dụng (có tác dụng bẻ gẫy các liên kết trong lá, thân cây) để tạo ra những miếng mồi ngon phù hợp với kích cỡ của chúng. Các vi sinh vật háu đói xử lý một lượng lớn carbon trong đất, thậm chí thu nạp vài loại nguyên tố vào trong tế bào của mình.

Và vì bận rộn như vậy, vi khuẩn không thể thực hiện trọn vẹn công việc. "Chúng chẳng phải là những cái máy nghiền hiệu quả trăm phần trăm", Steven Allison, một nhà sinh thái học tại Đại học Irvine, California, nói.

 

Tại sao đất có màu nâu?

Lát cắt đất dọc theo sông Manu, Perru có màu hơi vàng và đỏ do khoáng chất, trong khi lớp mỏng trên bề mặt có màu nâu là do sự có mặt của carbon hữu cơ. (Ảnh: LiveScience)
"Có những mảnh carbon không bị vi khuẩn đánh chén, và có carbon trong cơ thể của chính chúng. Sau đó chúng chết đi, carbon lại quay trở lại lòng đất. Đó là một chu trình, mà ở đó luôn có carbon còn sót lại. Những mảnh nhỏ này tích luỹ dần qua thời gian".

Chúng được gọi là vật liệu mùn, chất đống năm này qua năm khác. Chính kho tích luỹ carbon của vi khuẩn đã tạo cho trái đất màu nâu bẩn, bởi carbon hấp thụ hầu hết màu sắc trong quang phổ mặt trời, trừ ánh sáng màu nâu bị nó phản xạ trở lại.

Tuy nhiên, không phải đất đai trên khắp trái đất đều có màu nâu. Một số sa mạc dường như chỉ có cát trắng. Đất ở Hawaii, giàu sắt, lại có màu hơi đỏ. Đào sâu xuống đất ở một vài vùng có màu nâu bẩn, bạn sẽ thấy các màu khác bên dưới.

"Nếu không có quá nhiều carbon trong lòng đất, mặt đất sẽ có màu vàng, đỏ và xám. Chúng phụ thuộc vào màu của khoáng chất chủ đạo ở đó", Allison nói.

0 0
Hương Thảo 19/05/2021 16:09
Mỗi lần thái hành bạn lại phải tìm cách vừa thái vừa tránh cho mắt tiếp xúc gần với hành để không phải “rơi nước mắt”. Tại sao lại có việc này? Có những mẹo gì để tránh rơi nước mắt khi thái hành?Bạn đang vui vẻ thái hành chuẩn bị cho bữa tối thì Bùm! Mắt bạn cay xè và nước mắt cứ tuôn rơi. Có lẽ mắt bạn cay đến nỗi bạn phải tránh xa khỏi đống hành! Tại sao hành lại có thể làm bạn khó chịu đến vậy? Thật ra nó liên quan đến một phản ứng hóa sinh khá thú vị.Chảy nước mắt khi thái hành là hiện tượng nhiều người gặp phải mỗi khi nấu ăn.Trước khi xuất hiện trong nhà bếp của bạn, cây hành hấp thụ chất dinh dưỡng từ mặt trời và khoáng chất từ đất. Hóa ra hành đặc biệt hấp thụ tốt lưu huỳnh, mà chúng sử dụng trong các axit amin. Khi bạn cắt hành, bạn làm vỡ các lớp tế bào, giải phóng chất lỏng của chúng. Những enzyme bị phân tách lúc trước gặp axit amin giàu lưu huỳnh và tạo thành axit sulfenic không bất ổn, sau đó chúng sắp xếp lại thành một chất gọi là syn-propanethial-S-oxide. Chất hóa học lén lút này dễ bay hơi, và gây ra cảm giác đau rát khi bay lên từ thớt và tiếp xúc với mắt bạn. Để giữ cho mắt bạn không bị tổn thương, não bạn nhanh chóng kích hoạt tuyến lệ để rửa các chất gây kích thích.Vậy có thể làm gì để giảm bớt phản ứng hóa học với hành? Những loại hành nhất định, đặc biệt là hành ngọt, có ít lưu huỳnh hơn các loại khác và do vậy ít gây đau rát cho mắt. Bạn cũng có thể để hành trong tủ lạnh trước khi thái; điều này sẽ làm chậm hoạt động của các enzyme chịu trách nhiệm cho chuỗi phản ứng hóa học không may kia.Một mẹo khác – như bật diêm, ăn bánh mì trong khi thái hành, hay thở bằng miệng – được xem là ít hiệu quả hơn, nhưng tuyệt vọng là mẹ của sáng tạo mà? Hãy thử nếu cần thiết.

Mỗi lần thái hành bạn lại phải tìm cách vừa thái vừa tránh cho mắt tiếp xúc gần với hành để không phải “rơi nước mắt”. Tại sao lại có việc này? Có những mẹo gì để tránh rơi nước mắt khi thái hành?

Bạn đang vui vẻ thái hành chuẩn bị cho bữa tối thì Bùm! Mắt bạn cay xè và nước mắt cứ tuôn rơi. Có lẽ mắt bạn cay đến nỗi bạn phải tránh xa khỏi đống hành! Tại sao hành lại có thể làm bạn khó chịu đến vậy? Thật ra nó liên quan đến một phản ứng hóa sinh khá thú vị.

thái hành, chảy nước mắt khi thái hành, khóc khi thái hành, phản ứng hóa sinh, chất syn-propanethial-S-oxide


Chảy nước mắt khi thái hành là hiện tượng nhiều người gặp phải mỗi khi nấu ăn.

Trước khi xuất hiện trong nhà bếp của bạn, cây hành hấp thụ chất dinh dưỡng từ mặt trời và khoáng chất từ đất. Hóa ra hành đặc biệt hấp thụ tốt lưu huỳnh, mà chúng sử dụng trong các axit amin. Khi bạn cắt hành, bạn làm vỡ các lớp tế bào, giải phóng chất lỏng của chúng. Những enzyme bị phân tách lúc trước gặp axit amin giàu lưu huỳnh và tạo thành axit sulfenic không bất ổn, sau đó chúng sắp xếp lại thành một chất gọi là syn-propanethial-S-oxide. Chất hóa học lén lút này dễ bay hơi, và gây ra cảm giác đau rát khi bay lên từ thớt và tiếp xúc với mắt bạn. Để giữ cho mắt bạn không bị tổn thương, não bạn nhanh chóng kích hoạt tuyến lệ để rửa các chất gây kích thích.

Vậy có thể làm gì để giảm bớt phản ứng hóa học với hành? Những loại hành nhất định, đặc biệt là hành ngọt, có ít lưu huỳnh hơn các loại khác và do vậy ít gây đau rát cho mắt. Bạn cũng có thể để hành trong tủ lạnh trước khi thái; điều này sẽ làm chậm hoạt động của các enzyme chịu trách nhiệm cho chuỗi phản ứng hóa học không may kia.

Một mẹo khác – như bật diêm, ăn bánh mì trong khi thái hành, hay thở bằng miệng – được xem là ít hiệu quả hơn, nhưng tuyệt vọng là mẹ của sáng tạo mà? Hãy thử nếu cần thiết.

0 0
Ðoan Trang 18/05/2021 20:57
Trong mắt người hiện đại, những chiếc gối càng êm ái lại càng được ưa chuộng. Tuy nhiên trước kia, những chiếc gối sứ vô cùng cứng lại được sử dụng rất phổ biến, phải chăng nó có công dụng đặc biệt nào đó?Thời cổ đại ở Trung Quốc, do lông ngỗng, len rất đắt, người bình thường không thể mua nổi nên gối sứ là lựa chọn phổ biến của người dân. Hơn nữa, quy trình sản xuất gối mềm cũng phức tạp, nên những vật liệu này không phải lựa chọn hàng đầu của họ.Hình dáng phổ biến nhất của những chiếc gối sứ. (Nguồn: Baike.baidu).Ban đầu gối được làm bằng đá tự nhiên có hình dáng khá thô sơ. Sau này, gối sứ cũng dần phát triển theo hướng có hình dáng tinh tế với hoa văn và hình dáng đẹp mắt. Dần dần, những kiểu dáng gối sứ khác nhau cũng tượng trưng cho thân phận và địa vị của chủ nhân.Thời xa xưa, thời tiết ở miền Bắc Trung Quốc tương đối khô ráo, nhưng vào mùa hè sẽ rất nóng. Gối sứ sẽ giúp thoát nhiệt, giúp cho con người mát hơn, mang đến một giấc ngủ ngon hơn.Ngoài ra, do thời cổ đại cả nam và nữ đều có mái tóc dài, việc búi tóc khá phức tạp và tốn nhiều thời gian. Sử dụng gối sứ sẽ giúp cho tóc của họ gọn gàng hơn khi thức dậy, không tốn quá nhiều thời gian để búi lại.Theo những ghi chép còn sót lại, gối sứ xuất hiện lần đầu tiên vào thời nhà Tùy. Khi này nó được sử dụng trong tang lễ, đến thời nhà Đường bắt đầu trở nên phổ biến hơn.Hình dạng của gối sứ vô cùng đa dạng. (Nguồn: Sohu).Vào thời nhà Tống, gối sứ đã bắt đầu được sản xuất hàng loạt và chúng đã trở thành chiếc gối yêu thích của mọi người. Nó thậm chí còn được sử dụng như một công cụ để bắt mạch.Gối sứ nung trong lò nung Từ Châu thời Tống là tiêu biểu nhất. Những chiếc gối hình học và gối hình thú cũng đã xuất hiện, có thể thấy tay nghề thủ công của những người thợ thời này vô cùng cao.Thời nhà Minh, nhà Thanh gối sứ không chỉ là vật dụng sinh hoạt hàng ngày mà còn là đồ thủ công mỹ nghệ. Sau đó với sự xuất hiện của các chất liệu khác tốt hơn nên gối sứ đã dần dần biến mất.

Trong mắt người hiện đại, những chiếc gối càng êm ái lại càng được ưa chuộng. Tuy nhiên trước kia, những chiếc gối sứ vô cùng cứng lại được sử dụng rất phổ biến, phải chăng nó có công dụng đặc biệt nào đó?

Thời cổ đại ở Trung Quốc, do lông ngỗng, len rất đắt, người bình thường không thể mua nổi nên gối sứ là lựa chọn phổ biến của người dân. Hơn nữa, quy trình sản xuất gối mềm cũng phức tạp, nên những vật liệu này không phải lựa chọn hàng đầu của họ.

Hình dáng phổ biến nhất của những chiếc gối sứ.


Hình dáng phổ biến nhất của những chiếc gối sứ. (Nguồn: Baike.baidu).

Ban đầu gối được làm bằng đá tự nhiên có hình dáng khá thô sơ. Sau này, gối sứ cũng dần phát triển theo hướng có hình dáng tinh tế với hoa văn và hình dáng đẹp mắt. Dần dần, những kiểu dáng gối sứ khác nhau cũng tượng trưng cho thân phận và địa vị của chủ nhân.

Thời xa xưa, thời tiết ở miền Bắc Trung Quốc tương đối khô ráo, nhưng vào mùa hè sẽ rất nóng. Gối sứ sẽ giúp thoát nhiệt, giúp cho con người mát hơn, mang đến một giấc ngủ ngon hơn.

Ngoài ra, do thời cổ đại cả nam và nữ đều có mái tóc dài, việc búi tóc khá phức tạp và tốn nhiều thời gian. Sử dụng gối sứ sẽ giúp cho tóc của họ gọn gàng hơn khi thức dậy, không tốn quá nhiều thời gian để búi lại.

Theo những ghi chép còn sót lại, gối sứ xuất hiện lần đầu tiên vào thời nhà Tùy. Khi này nó được sử dụng trong tang lễ, đến thời nhà Đường bắt đầu trở nên phổ biến hơn.

Hình dạng của gối sứ vô cùng đa dạng.


Hình dạng của gối sứ vô cùng đa dạng. (Nguồn: Sohu).

Vào thời nhà Tống, gối sứ đã bắt đầu được sản xuất hàng loạt và chúng đã trở thành chiếc gối yêu thích của mọi người. Nó thậm chí còn được sử dụng như một công cụ để bắt mạch.

Gối sứ nung trong lò nung Từ Châu thời Tống là tiêu biểu nhất. Những chiếc gối hình học và gối hình thú cũng đã xuất hiện, có thể thấy tay nghề thủ công của những người thợ thời này vô cùng cao.

Thời nhà Minh, nhà Thanh gối sứ không chỉ là vật dụng sinh hoạt hàng ngày mà còn là đồ thủ công mỹ nghệ. Sau đó với sự xuất hiện của các chất liệu khác tốt hơn nên gối sứ đã dần dần biến mất.

0 0
Biên Cương 07/04/2021 16:00
Bạn có bao giờ thắc mắc vì sao tại khách sạn thường luôn đặt nhiều gối trên giường? Ví dụ giường đơn có 2 chiếc gối, giường đôi thì sẽ có 4 chiếc hay thậm chí nhiều hơn nữa. Thường các khách sạn sẽ đặt một chiếc gối lớn màu trắng hoặc màu trơn ở dưới làm gối ngủ, vậy còn những chiếc gối nhỏ màu nổi bật bắt mắt hơn dùng để làm gì?Trước tiên, chúng có nhiệm vụ làm đẹp cho căn phòng và khiến giường trông bớt trống trải. Tiếp đó, khách lưu trú có thể dùng gối nhỏ để tựa lưng khi ngồi đọc sách, xem tivi,... Nhưng lý do chính đơn giản là vì các chuyên gia từ lâu đã biết cách dùng gối khi ngủ tốt nhất của con người là phải dùng hai gối. Ngoài chiếc gối để kê đầu thông thường, bạn nên kê chiếc gối nhỏ này dưới chân khi nằm ngửa hoặc kẹp giữa hai chân khi nằm nghiêng.Hành động kê/kẹp gối này sẽ mang lại cực kỳ nhiều lợi ích ít người biết:Cải thiện lưu thông máu trong cơ thểNếu giữ thói quen lâu dài, nó còn giúp ngăn ngừa tình trạng giãn tĩnh mạch.Kê gối giữa hai chân hoặc kê lên cao sẽ giúp cải thiện lưu thông máu trong cơ thể, giảm áp lực lên tĩnh mạch và thậm chí tăng cường hệ thống miễn dịch của bạn. Nếu giữ thói quen lâu dài, nó còn giúp ngăn ngừa tình trạng giãn tĩnh mạch.Ngăn ngừa ngủ ngáyTheo các chuyên gia, ngủ nghiêng về bên trái là tư thế tốt nhất cho bạn nếu bạn mắc chứng ngủ ngáy. Nhưng khi ngủ nghiêng một bên có thể gây áp lực không tốt lên lưng và hông. Vì thế chúng ta nên kê một chiếc gối giữa hai chân để có thể thư giãn và giảm thiểu áp lực này.Giảm lực tác động lên đầu gốiNếu cơn đau đầu gối khiến bạn khó ngủ, thì kê gối là giải pháp đơn giản, dễ thực hiện hàng đầu.Nếu cơn đau đầu gối khiến bạn khó ngủ hằng đêm hoặc đơn giản là bạn muốn bảo vệ xương của mình thì kê gối là giải pháp đơn giản, dễ thực hiện hàng đầu. Lớp đệm bảo vệ này giúp chúng ta thư giãn và có thể giảm bớt các cơn đau.Giúp duy trì tư thế ngủ chính xácNgủ với một chiếc gối giữa hai chân giúp giảm áp lực lên lưng dưới và cột sống của bạn. Nếu bạn nằm ngửa khi ngủ, kê gối nhỏ sẽ giúp giữ cơ thể thẳng hàng ở tư thế tốt. Tập tư thế ngủ đúng cách không chỉ đơn thuần giúp ngủ ngon hơn mà còn bảo vệ xương khớp và sức khỏe nói chung.Vì vậy, chúng ta hãy học tập các khách sạn, sắm cho mình thêm gối và giữ thói quen dùng gối khoa học này nhé!

Bạn có bao giờ thắc mắc vì sao tại khách sạn thường luôn đặt nhiều gối trên giường? Ví dụ giường đơn có 2 chiếc gối, giường đôi thì sẽ có 4 chiếc hay thậm chí nhiều hơn nữa. Thường các khách sạn sẽ đặt một chiếc gối lớn màu trắng hoặc màu trơn ở dưới làm gối ngủ, vậy còn những chiếc gối nhỏ màu nổi bật bắt mắt hơn dùng để làm gì?

Trước tiên, chúng có nhiệm vụ làm đẹp cho căn phòng và khiến giường trông bớt trống trải. Tiếp đó, khách lưu trú có thể dùng gối nhỏ để tựa lưng khi ngồi đọc sách, xem tivi,... Nhưng lý do chính đơn giản là vì các chuyên gia từ lâu đã biết cách dùng gối khi ngủ tốt nhất của con người là phải dùng hai gối. Ngoài chiếc gối để kê đầu thông thường, bạn nên kê chiếc gối nhỏ này dưới chân khi nằm ngửa hoặc kẹp giữa hai chân khi nằm nghiêng.

Hành động kê/kẹp gối này sẽ mang lại cực kỳ nhiều lợi ích ít người biết:

Cải thiện lưu thông máu trong cơ thể

Nếu giữ thói quen lâu dài, nó còn giúp ngăn ngừa tình trạng giãn tĩnh mạch.
Nếu giữ thói quen lâu dài, nó còn giúp ngăn ngừa tình trạng giãn tĩnh mạch.

Kê gối giữa hai chân hoặc kê lên cao sẽ giúp cải thiện lưu thông máu trong cơ thể, giảm áp lực lên tĩnh mạch và thậm chí tăng cường hệ thống miễn dịch của bạn. Nếu giữ thói quen lâu dài, nó còn giúp ngăn ngừa tình trạng giãn tĩnh mạch.

Ngăn ngừa ngủ ngáy

Theo các chuyên gia, ngủ nghiêng về bên trái là tư thế tốt nhất cho bạn nếu bạn mắc chứng ngủ ngáy. Nhưng khi ngủ nghiêng một bên có thể gây áp lực không tốt lên lưng và hông. Vì thế chúng ta nên kê một chiếc gối giữa hai chân để có thể thư giãn và giảm thiểu áp lực này.

Giảm lực tác động lên đầu gối

Nếu cơn đau đầu gối khiến bạn khó ngủ, thì kê gối là giải pháp đơn giản, dễ thực hiện hàng đầu.
Nếu cơn đau đầu gối khiến bạn khó ngủ, thì kê gối là giải pháp đơn giản, dễ thực hiện hàng đầu.

Nếu cơn đau đầu gối khiến bạn khó ngủ hằng đêm hoặc đơn giản là bạn muốn bảo vệ xương của mình thì kê gối là giải pháp đơn giản, dễ thực hiện hàng đầu. Lớp đệm bảo vệ này giúp chúng ta thư giãn và có thể giảm bớt các cơn đau.

Giúp duy trì tư thế ngủ chính xác

Ngủ với một chiếc gối giữa hai chân giúp giảm áp lực lên lưng dưới và cột sống của bạn. Nếu bạn nằm ngửa khi ngủ, kê gối nhỏ sẽ giúp giữ cơ thể thẳng hàng ở tư thế tốt. Tập tư thế ngủ đúng cách không chỉ đơn thuần giúp ngủ ngon hơn mà còn bảo vệ xương khớp và sức khỏe nói chung.

Vì vậy, chúng ta hãy học tập các khách sạn, sắm cho mình thêm gối và giữ thói quen dùng gối khoa học này nhé!

0 0
Thục Trinh 30/03/2021 15:39
Nguyên nhân chính dẫn đến việc mắt bị cay rát là do mắt bị khô.Bên cạnh việc thiếu chớp mắt, khi ngủ cơ chế tạo ra nước mắt của cơ thể cũng không hoạt động như khi bạn thức, dẫn đến mắt không được bôi trơn, do đó khiến chúng bị khô.Tình trạng khô mắt thậm chí còn tồi tệ hơn ở những người ngủ với mí mắt mở một phần. Ngủ khi mắt không nhắm hẳn, cùng với việc thiếu chớp mắt sẽ làm khô mắt nhanh hơn. Bên cạnh đó, ngủ ngay dưới quạt trần chạy quá mạnh cũng không cũng có tác hại tương tự.Hiện tượng khô mắt cũng xảy ra sau khi làm việc trong thời gian dài, chẳng hạn như nhìn vào màn hình máy tính hoặc điện thoại thông minh, hoặc thậm chí đọc sách. Mọi người có xu hướng chớp mắt ít hơn khi tập trung vào điều gì đó, điều này khiến mắt họ nhanh chóng bị khô.Trên thực tế, chúng ta thường chớp mắt 15-20 lần một phút, nhưng khi làm điều gì đòi hỏi sự tập trung, chẳng hạn như mải mê xem một chương trình truyền hình hoặc đọc sách,… tốc độ chớp mắt có thể giảm xuống chỉ còn 3-4 lần một phút.Đây là lý do tại sao các bác sĩ đôi khi khuyên mọi người sử dụng thuốc nhỏ mắt giúp làm giảm chứng khô mắt — một tình trạng rất thường thấy ở những người làm việc trước màn hình máy tính trong nhiều giờ liên tục.

Nguyên nhân chính dẫn đến việc mắt bị cay rát là do mắt bị khô.

Bên cạnh việc thiếu chớp mắt, khi ngủ cơ chế tạo ra nước mắt của cơ thể cũng không hoạt động như khi bạn thức, dẫn đến mắt không được bôi trơn, do đó khiến chúng bị khô.

Tình trạng khô mắt thậm chí còn tồi tệ hơn ở những người ngủ với mí mắt mở một phần. Ngủ khi mắt không nhắm hẳn, cùng với việc thiếu chớp mắt sẽ làm khô mắt nhanh hơn. Bên cạnh đó, ngủ ngay dưới quạt trần chạy quá mạnh cũng không cũng có tác hại tương tự.

Hiện tượng khô mắt cũng xảy ra sau khi làm việc trong thời gian dài, chẳng hạn như nhìn vào màn hình máy tính hoặc điện thoại thông minh, hoặc thậm chí đọc sách. Mọi người có xu hướng chớp mắt ít hơn khi tập trung vào điều gì đó, điều này khiến mắt họ nhanh chóng bị khô.

Trên thực tế, chúng ta thường chớp mắt 15-20 lần một phút, nhưng khi làm điều gì đòi hỏi sự tập trung, chẳng hạn như mải mê xem một chương trình truyền hình hoặc đọc sách,… tốc độ chớp mắt có thể giảm xuống chỉ còn 3-4 lần một phút.

Đây là lý do tại sao các bác sĩ đôi khi khuyên mọi người sử dụng thuốc nhỏ mắt giúp làm giảm chứng khô mắt — một tình trạng rất thường thấy ở những người làm việc trước màn hình máy tính trong nhiều giờ liên tục.

0 1
Kim Liên 22/03/2021 14:23
Một trong những nguyên nhân có thể là do các biện pháp hỗ trợ sinh sản, chẳng hạn như thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Phương pháp này làm tăng cơ hội sinh đôi nếu người mẹ được cấy hơn 1 phôi thai vào tử cung.Tuy nhiên, một số nơi trên thế giới có thể đã đạt đến thời điểm có nhiều ca sinh đôi nhất, vì các chuyên gia bắt đầu giảm số lượng phôi thai cấy vào cơ thể người mẹ sau khi thực hiện IVF.Đồng tác giả của nghiên cứu này, Giáo sư Christiaan Moden của Trường đại học Oxford, Anh, cho biết: Những con số tương đối và tuyệt đối của các ca sinh đôi trên thế giới hiện nay đang ở mức cao nhất kể từ giữa thế kỷ XX và có lẽ là cao nhất mọi thời đại. Hiểu về vấn đề này là việc rất quan trọng vì các ca sinh đôi liên quan đến tỷ lệ tử vong cao hơn ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, và nhiều nguy cơ biến chứng hơn đối với các bà mẹ và trẻ nhỏ trong quá trình mang thai, trong và sau thời điểm sinh nở.Ngày càng có nhiều phụ nữ sinh con ở độ tuổi muộn hơn, điều này cũng góp phần làm tăng tỷ lệ sinh đôi, vì phụ nữ nhiều tuổi hơn dễ thụ thai sinh đôi hơn.Các nhà nghiên cứu đã phân tích thông tin về các ca sinh đôi ở 165 nước trong thời gian 2010 - 2015. Trong số đó, 112 nước có cả thông tin cho giai đoạn 1980 - 1985. Nhờ đó các nhà nghiên cứu có thể so sánh khá thuận lợi. Kết quả cho thấy trong 30 năm qua, tỷ lệ sinh đôi tăng hơn 10% ở 74 trong số 112 nước đó.Nguyên nhân tăng chủ yếu do tăng số ca sinh đôi từ hai hợp tử (sinh đôi khác trứng); còn tỷ lệ sinh đôi từ một hợp tử (sinh đôi cùng trứng) thì vẫn giữ nguyên trên toàn thế giới, với khoảng 4 trường hợp/ 1.000 ca sinh.Tính riêng từng châu lục thì Bắc Mỹ có mức tăng cao nhất với con số 71% trong 3 thập kỷ qua. Đứng thứ hai là châu Âu - 58%, và châu Đại Dương - 46%.Nhưng xét về tỷ lệ thì châu Phi là nơi có tỷ lệ sinh đôi tăng cao nhất thế giới, 17 trường hợp/ 1.000 ca sinh. Tuy vậy, tỷ lệ này gần như không thay đổi trong suốt 3 thập kỷ qua. Vì vậy các nhà nghiên cứu nhận định một bộ phận người dân châu Phi có gene dễ sinh đôi hơn so với toàn bộ dân số còn lại trên thế giới."Trong cả hai giai đoạn có số liệu nghiên cứu, châu Phi đều có tỷ lệ sinh đôi cao nhất và cũng không có sự gia tăng theo thời gian, còn châu Âu, Bắc Mỹ và châu Đại Dương thì tăng lên rất nhanh", giáo sư Monden cho biết.Nhưng điều đáng nói là cơ hội sống của các bé sinh đôi ở các nước giàu có rất khác so với các bé này ở các nước nghèo."Trẻ sinh đôi ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình cần được chú ý nhiều hơn. Cụ thể như ở châu Phi cận Sahara, nhiều cặp song sinh chỉ còn một bé sống được trong năm đầu đời, tức là mỗi năm có 200 đến 300 trẻ sinh đôi mất đi" - đồng tác giả của nghiên cứu, Giáo sư Jeroen Smits của Trường đại học Radboud, Hà Lan, cho biết.Các nhà nghiên cứu kêu gọi các nước tập hợp và lưu trữ số liệu tốt hơn về các trường hợp sinh đôi, cụ thể là ở những nước nghèo, bởi vì thiếu số liệu sẽ hạn chế tính chính xác của kết quả nghiên cứu. Theo họ, cần có thêm nghiên cứu sâu để xác định xem tỷ lệ sinh đôi đã thực sự đạt đỉnh điểm ở các nước có thu nhập cao hay chưa và các phương pháp hỗ trợ sinh sản ở các nước thu nhập thấp và trung bình ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ sinh đôi.Nghiên cứu này vừa được công bố ngày 11/3/2021 trên tạp chí Human Reproduction của Trường đại học Oxford, Anh.

Một trong những nguyên nhân có thể là do các biện pháp hỗ trợ sinh sản, chẳng hạn như thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Phương pháp này làm tăng cơ hội sinh đôi nếu người mẹ được cấy hơn 1 phôi thai vào tử cung.

Tuy nhiên, một số nơi trên thế giới có thể đã đạt đến thời điểm có nhiều ca sinh đôi nhất, vì các chuyên gia bắt đầu giảm số lượng phôi thai cấy vào cơ thể người mẹ sau khi thực hiện IVF.

Đồng tác giả của nghiên cứu này, Giáo sư Christiaan Moden của Trường đại học Oxford, Anh, cho biết: Những con số tương đối và tuyệt đối của các ca sinh đôi trên thế giới hiện nay đang ở mức cao nhất kể từ giữa thế kỷ XX và có lẽ là cao nhất mọi thời đại. Hiểu về vấn đề này là việc rất quan trọng vì các ca sinh đôi liên quan đến tỷ lệ tử vong cao hơn ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, và nhiều nguy cơ biến chứng hơn đối với các bà mẹ và trẻ nhỏ trong quá trình mang thai, trong và sau thời điểm sinh nở.

Ngày càng có nhiều phụ nữ sinh con ở độ tuổi muộn hơn, điều này cũng góp phần làm tăng tỷ lệ sinh đôi, vì phụ nữ nhiều tuổi hơn dễ thụ thai sinh đôi hơn.

Các nhà nghiên cứu đã phân tích thông tin về các ca sinh đôi ở 165 nước trong thời gian 2010 - 2015. Trong số đó, 112 nước có cả thông tin cho giai đoạn 1980 - 1985. Nhờ đó các nhà nghiên cứu có thể so sánh khá thuận lợi. Kết quả cho thấy trong 30 năm qua, tỷ lệ sinh đôi tăng hơn 10% ở 74 trong số 112 nước đó.

Nguyên nhân tăng chủ yếu do tăng số ca sinh đôi từ hai hợp tử (sinh đôi khác trứng); còn tỷ lệ sinh đôi từ một hợp tử (sinh đôi cùng trứng) thì vẫn giữ nguyên trên toàn thế giới, với khoảng 4 trường hợp/ 1.000 ca sinh.

Tính riêng từng châu lục thì Bắc Mỹ có mức tăng cao nhất với con số 71% trong 3 thập kỷ qua. Đứng thứ hai là châu Âu - 58%, và châu Đại Dương - 46%.

Nhưng xét về tỷ lệ thì châu Phi là nơi có tỷ lệ sinh đôi tăng cao nhất thế giới, 17 trường hợp/ 1.000 ca sinh. Tuy vậy, tỷ lệ này gần như không thay đổi trong suốt 3 thập kỷ qua. Vì vậy các nhà nghiên cứu nhận định một bộ phận người dân châu Phi có gene dễ sinh đôi hơn so với toàn bộ dân số còn lại trên thế giới.

"Trong cả hai giai đoạn có số liệu nghiên cứu, châu Phi đều có tỷ lệ sinh đôi cao nhất và cũng không có sự gia tăng theo thời gian, còn châu Âu, Bắc Mỹ và châu Đại Dương thì tăng lên rất nhanh", giáo sư Monden cho biết.

Nhưng điều đáng nói là cơ hội sống của các bé sinh đôi ở các nước giàu có rất khác so với các bé này ở các nước nghèo.

"Trẻ sinh đôi ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình cần được chú ý nhiều hơn. Cụ thể như ở châu Phi cận Sahara, nhiều cặp song sinh chỉ còn một bé sống được trong năm đầu đời, tức là mỗi năm có 200 đến 300 trẻ sinh đôi mất đi" - đồng tác giả của nghiên cứu, Giáo sư Jeroen Smits của Trường đại học Radboud, Hà Lan, cho biết.

Các nhà nghiên cứu kêu gọi các nước tập hợp và lưu trữ số liệu tốt hơn về các trường hợp sinh đôi, cụ thể là ở những nước nghèo, bởi vì thiếu số liệu sẽ hạn chế tính chính xác của kết quả nghiên cứu. Theo họ, cần có thêm nghiên cứu sâu để xác định xem tỷ lệ sinh đôi đã thực sự đạt đỉnh điểm ở các nước có thu nhập cao hay chưa và các phương pháp hỗ trợ sinh sản ở các nước thu nhập thấp và trung bình ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ sinh đôi.

Nghiên cứu này vừa được công bố ngày 11/3/2021 trên tạp chí Human Reproduction của Trường đại học Oxford, Anh.

0 0